Tham vấn sử dụng bền vững tài nguyên nước ĐBSCL

ĐBSCL được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu, khu vực này rất dễ bị tổn thương trước các tác động như nước biển dâng, lũ lụt trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô.
Tìm lời giải cho bài toán khan hiếm nước sạch vùng ĐBSCLQuy hoạch vùng ĐBSCL thành trung tâm kinh tế, phát triển các đô thịĐBSCL cần đột phá để phát triển nhanh, bền vững nền nông nghiệpĐến năm 2030, ĐBSCL sẽ trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững thế giới

Đứng trước thách thức nghiêm trọng

Sáng ngày 21/52022, tại TP.Cần Thơ, đại diện Bộ TN&MT chủ trì Hội thảo với chủ đề: Định hướng quản lý, khai thác, sử dụng phát triển bền vững tài nguyên nước ĐBSCL. Tham dự Hội thảo có ông Lê Công Thành - Thứ trưởng Bộ TN&MT; ông Vương Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng; ông Dương Tấn Hiển, Phó Chủ tịch thường trực UBND TP.Cần Thơ và đại diện Sở TN&MT 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng ĐBSCL.

Đăc biệt, Hội thảo có sự tham dự của đại diện các tổ chức quốc tế như: Viện Khoa học Địa chất và Tài nguyên thiên nhiên Liên bang Đức (BGR), Tổ chức hợp tác quốc tế Đức (GIZ), Dự án “Các giải pháp tích hợp cho sự phát triển bền vững khu vực ĐBSCL - Đất, nước, năng lượng và khí hậu”, Đại sứ quán Hà Lan, Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Công ty Haskoning Việt Nam và các chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước…

Tại Hội thảo các đại biểu sẽ được nghe các tham luận về: Nội dung chủ yếu của Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long; Các vấn đề về tài nguyên nước xuyên biên giới lưu vực sông Mê Công; Các vấn đề bảo vệ, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Cần Thơ; Các vấn đề bảo vệ, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước cần tập trung giải quyết trên địa bàn tỉnh An Giang;

Tham vấn sử dụng bền vững tài nguyên nước ĐBSCL - Ảnh 1
Quang cảnh Hội thảo chủ đề: Định hướng quản lý, khai thác, sử dụng phát triển bền vững tài nguyên nước ĐBSCL.

Định hướng khai thác nước bền vững ở ĐBSCL; Định hướng Bảo vệ, phòng chống sạt lở bờ và xâm nhập mặn ở ĐBSCL; Báo cáo kết quả dự án tăng cường năng lực bảo vệ nước ngầm ở ĐBSCL; Các vấn đề bảo vệ, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước cần tập trung giải quyết trên địa bàn Sở TN&MT tỉnh Long An; Nghiên cứu xây dựng các giải pháp trữ nước vùng ĐBSCL để giải quyết vấn đề thiếu nước vào mùa khô phục vụ cho phát triển bền vững vùng ĐBSCL;

Các vấn đề bảo vệ, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước cần tập trung giải quyết trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Hệ thống quản lý điều hành tác nghiệp thời gian thực phục vụ giám sát quy hoạch, dự báo, cảnh báo tài nguyên nước vùng ĐBSCL”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Lê Công Thành - Thứ trưởng Bộ TN&MT nhấn manh: Tài nguyên nước là nền tảng cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội. Hầu hết toàn bộ hoạt động phát triển kinh tế - xã hội phải dựa trên khả năng thực tế của nguồn nước, phù hợp với các xu thế diễn biến nguồn nước trong tương lai. Vì vậy, việc giải quyết các bài toán liên quan đến vấn về tài nguyên nước, bảo đảm khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước là cực kỳ cần thiết để đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội.

ĐBSCL đóng một vai trò thiết yếu đối với nền kinh tế Việt Nam, là trung tâm xuất nhập khẩu cho ngành nông nghiệp của đất nước. Khu vực này đất có độ phì nhiêu cao, là nơi sản xuất, xuất khẩu gạo, trái cây, cá và các sản phẩm nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước cũng như trong khu vực.

Các nghiên cứu có liên quan mới nhất đều chỉ ra rằng, ĐBSCL được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu. Tình hình địa lý của ĐBSCL cho thấy khu vực này rất dễ bị tổn thương trước các tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm mực nước biển dâng, lũ lụt trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô.

Cụ thể hơn, tài nguyên nước ĐBSCL đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng do tác động của biến đổi khí hậu và việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn. Sự thay đổi chế độ dòng chảy trong sông sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới phạm vi xâm nhập mặn tại ĐBSCL, đặc biệt trong những năm kiệt.

Cùng với đó, áp lực từ việc gia tăng dân số, phát triển kinh tế, xã hội sẽ kéo theo hàng loạt những thách thức từ chính nội tại vùng ĐBSCL như gia tăng lũ, xâm nhập mặn vào sâu, khai thác nước quá mức, ảnh hưởng môi trường nước và suy giảm đa dạng sinh học.

Tham vấn sử dụng bền vững tài nguyên nước ĐBSCL - Ảnh 2
Ông Lê Công Thành - Thứ trưởng Bộ TN&MT phát biểu tại Hội thảo.

Nhận thức tầm quan trọng trên, trong hơn một thập niên qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách dành nguồn lực để triển khai nhiều giải pháp nhằm không chỉ giải quyết các vấn đề có liên quan mà còn phát huy tiềm năng lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL, thông qua những thay đổi trong tư duy và đặt ra những tầm nhìn, cách tiếp cận mới về cách thức quản lý, sử dụng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước quý giá.

Việc ban hành các văn bản liên quan như Nghị quyết số 24/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, Chỉ thị số 23/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP, hay sự kiện mới đây nhất được chủ trì bởi Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc tổ chức tổ Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2/4/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 thể hiện ý chí và nỗ lực quyết liệt của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong giải quyết tình hình.

Cùng với đó là những sáng kiến cộng tác, hợp tác giữa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Rất nhiều các sự kiện như vậy bao gồm các dự án, hội thảo tham vấn, đánh giá đã được thực hiện, mang đến những hiệu quả thiết thực, góp phần xây dựng một niềm tin lớn lao về triển vọng mà ở đó toàn bộ hệ sinh thái bao gồm chính con người sẽ thành công trong ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng.

“Hội thảo “Định hướng quản lý, khai thác, sử dụng phát triển bền vững tài nguyên nước ĐBSCL” hôm nay, chính là một phần của những nỗ lực trên, nhằm đánh giá đầy đủ, toàn diện các vấn đề về bảo vệ, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên lưu vực sông Cửu Long nói chung và các địa phương trên lưu vực nói riêng, phục vụ việc lập Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long thời kỳ 2022 - 2030, tầm nhìn đến 2050”- Thứ trưởng Lê Công Thành nói.

Quy hoạch lại sông ngòi, hồ chứa nước ngọt

Từng góp về về việc sử dụng bền vững tài nguyên nước ĐBSCL, PGS.TS Văn Phạm Đăng Trí, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu, Trường Đại học Cần Thơ cho rằng, cần có phương án giảm khai thác nước dưới đất, tăng cường công tác dự trữ, sử dung nước mặt. Nước ngọt phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt là rất cần thiết. Mỗi địa phương cần phải quy hoạch, xây dựng giải pháp thích ứng phù hợp cho từng vùng, từng địa bàn. Đặc biệt, phải quy hoạch hệ thống sông ngòi, các hồ trữ nước ngọt để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trước biến đổi khí hậu như hiện nay.

Dòng chảy nguồn nước tích trữ điều tiết về cuối nguồn giao hòa với biển phải được lưu thông, chuyển động theo quy luật ảnh hưởng triều biển Đông với chế độ bán nhật triều không đều, hàng tháng có 2 kỳ nước lớn trùng với chu kỳ tuần trăng, triều cường xuất hiện vào các ngày rằm và ngày cuối tháng âm lịch, để phục hồi phần nước lợ từ bao đời đã tạo nên hệ sinh thái ven biển đặc thù phong phú.

Tham vấn sử dụng bền vững tài nguyên nước ĐBSCL - Ảnh 3
Hồ chứa nước ngọt Búng Bình Thiên ở huyện An Phú, tỉnh An Giang.

“Biển rất cần nước ngọt của sông vì nước ngọt mang dinh dưỡng ra cho biển, làm cho độ mặn, nhiệt độ nước biển vừa phải. Cá biển rất cần vào, ra cửa sông để sinh sản và ngược lại tôm, cá sông cần biển. Chẳng hạn như tôm càng xanh là loài nước ngọt, nhưng khi mang trứng thì phải bơi ra vùng nước lợ để đẻ, sau đó tôm con di chuyển ngược dần lên vùng ngọt. Cá kèo thì sinh sản ở vùng cửa sông”, Th.S Nguyễn Hữu Thiện (chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL) cho biết.

Phân tích dữ liệu từ những đợt hạn, mặn trong mấy năm qua cho thấy, lưu lượng nước trên sông Mekong về ĐBSCL ở mức dưới 1.600m3/s, giảm trên 1.200m3/s so với mức bình quân trong quá khứ. Diễn biến trong điều kiện thời tiết cực đoan này cũng đặt ra yêu cầu các giải pháp trữ nước cần phải tính đến các tình huống lưu lượng nước ngọt thượng nguồn Mekong đổ về ĐBSCL ở mức suy kiệt và con số 422 tỉ m3/năm mà các cơ quan chức năng ghi nhận trước đây không còn phản ánh đúng hiện trạng.

Do đó, cùng với khôi phục không gian trữ nước đầu nguồn thì không gian trữ nước trong mùa mưa lũ trên đồng ruộng, kênh mương, ao hồ,… các khu đất ngập nước ở vùng giữa, giáp mặn để chủ động nguồn nước nội vùng và góp phần điều tiết tăng cường độ dòng chảy nước ngọt về phía ven biển trong mùa kiệt, giảm bớt mặn xâm nhập sâu về phía thượng nguồn cũng cần được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh sản xuất phù hợp…

Trên thực tế, khi xây dựng Quy hoạch vùng ĐBSCL, Liên danh tư vấn Royal Haskoning DHV & GIZ đã đề xuất chia vùng thành 3 tiểu vùng, bao gồm vùng nước ngọt (lùi vùng ngọt vào khu vực an toàn tự nhiên, không can thiệp); vùng chuyển tiếp (chấp nhận ngọt - mặn theo mùa, chỉ điều tiết, không ngăn mặn) và vùng mặn (tuần hoàn nước biển, phát triển thủy sản và phục hồi sinh thái); đồng thời có các giải pháp cụ thể cho cả 3 vùng này trong cả trung và dài hạn.

Chẳng hạn, với vùng nước ngọt ở khu vực Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên, giải pháp là bỏ lúa vụ 3, phát triển sinh kế dựa vào lũ; xả lũ vào ruộng; không phát triển thành vùng trữ nước quanh năm; sử dụng hệ thống cống ở đê bao hiện hữu vào mục đích điều tiết lũ cực đoan chống thiên tai… Hay với vùng nước mặn bán đảo Cà Mau, giải pháp là phát triển hệ thống tuần hoàn nước mặn; chuyển đổi nuôi trồng thủy sản độc canh sang đa canh bền vững; cấm khai thác nước ngầm ở vùng ven biển; làm đê chắn sóng bảo vệ bờ…

Thanh Sang

Liên kết