Đặc điểm và phân loại công cụ kinh tế môi trường

Sáng 24/11, tại Hội thảo khoa học “Nâng cao hiệu quả công cụ kinh tế bảo vệ môi trường”, PGS.TS Lưu Đức Hải đã có bài báo trình bày tổng quan đặc điểm và phân loại các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường.
Thực trạng và cơ hội ứng dụng công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên nước ở Việt NamThực trạng và các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt bằng các công cụ kinh tế ở Việt NamThuế và phí môi trường, lý luận và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam

Sáng 24/11, tại Hội thảo khoa học “Nâng cao hiệu quả công cụ kinh tế bảo vệ môi trường”, PGS.TS Lưu Đức Hải đã có bài báo trình bày tổng quan đặc điểm và phân loại các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường.

Thực hiện Quyết định của Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, sáng nay (24/11), Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học “Nâng cao hiệu quả công cụ kinh tế bảo vệ môi trường”.

Theo đó, Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tuyến từ 2 điểm cầu: Văn phòng Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam (số 19, Trung Yên 11A, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội) và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đặc điểm và phân loại công cụ kinh tế môi trường - Ảnh 1
Các nhà khoa học tham gia hội thảo tại điểm cầu Văn phòng Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam.

Hội thảo khoa học diễn ra cả ngày 24/11 với 3 phiên thảo luận đan xen; Với sự tham dự của các chuyên gia khoa học đầu ngành về lĩnh vực kinh tế môi trường như PGS.TS Trương Mạnh Tiến, PGS.TS Lưu Đức Hải, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, GS.TS Hoàng Xuân Cơ, PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải, TS Lại Văn Mạnh, PGS.TS Lưu Thế Anh, TS Hoàng Thị Huê, TS Nguyễn Thị Quỳnh Hương, PGS.TS Lê Đức, ThS Lê Minh Toàn...

Tại hội thảo khoa học “Nâng cao hiệu quả công cụ kinh tế bảo vệ môi trường” sẽ có 10 báo cáo được trình bày.

Đặc điểm và phân loại công cụ kinh tế môi trường - Ảnh 2

Tạp chí Kinh tế và Môi trường xin giới thiệu bài báo trình bày tổng quan đặc điểm và phân loại các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường của PGS.TS Trương Mạnh Tiến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Chủ tịch TW Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam và PGS.TS Lưu Đức Hải, Phó Chủ tịch TW Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam.

Tóm tắt: Bài báo trình bày tổng quan đặc điểm và phân loại các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường; đưa ra các định nghĩa chung của công cụ kinh tế bảo vệ môi trường là nội hóa các chi phí môi trường mà con người phải chi trả cho việc sử dụng tài nguyên và môi trường tự nhiên của Trái Đất; cũng như quan hệ của con người về môi trường và tài nguyên mang tính thị trường theo cơ chế cung cầu. Bài báo đồng thời cũng đưa cách phân loại các công cụ đó thành 7 nhóm: quyền sở hữu, tạo ra thị trường, công cụ tài khóa, hệ thống phí, công cụ tài chính, hệ thống trách nhiệm pháp lý về môi trường, hệ thống trái phiếu và hoàn trả tiền gửi.

Đặc điểm và phân loại công cụ kinh tế môi trường - Ảnh 3
PGS.TS Lưu Đức Hải, Phó Chủ tịch TW Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam phát biểu tại Hội thảo khoa học “Nâng cao hiệu quả công cụ kinh tế bảo vệ môi trường”.

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết số 41/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2004 đã ghi “áp dụng các biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường là giải pháp phù hợp bởi bối cảnh kinh tế thị trường, đảm bảo người gây ra thiệt hại và được hưởng lợi từ MT phải trả tiền”. Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 trong điều 110 có ghi rõ các loại công cụ kinh tế được triển khai áp dụng (bồi thường thiệt hại môi trường, thuế môi trường, phí môi trường, tiền phạt về môi trường, cho vay ưu đãi về môi trường). Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 [1], đã trình bày một số điều khoản cụ thể về từng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường (điều 148 – Phí bảo vệ môi trường, điều 149 – Quỹ bảo vệ môi trường, điều 151 – Ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã dành chương XI để trình bày các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường, cụ thể như: điều 136 – Chính sách thuế, phí bảo vệ môi trường; điều 137 – Ký quỹ bảo vệ môi trường; điều 138 – Chi trả dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên; điều 139 – Tổ chức và phát triển thị trường carbon; 140 – Bảo hiểm trách nhiệm đền bù thiệt hại; v.v. Trên cơ sở các Luật Bảo vệ môi trường nêu trên; ra đời Luật Thuế bảo vệ môi trường và hàng loạt các nghị định trình bày rõ các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường, như: phí bảo vệ môi trường nước thải, phí bảo vệ môi trường khai thác khoáng sản, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, v.v.

Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế ổn định và nhanh trên bình diện quốc tế và khu vực; đồng thời cũng là quốc gia có sự chuyển đổi nhanh từ mô hình kinh tế tập trung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường đinh hướng chủ nghĩa xã hội (Nguyễn Phú Trọng 2021) [2]. Trong bối cảnh đó, các công cụ kinh tế môi trường với đặc điểm ưu việt là mềm dẻo, dễ thích ứng và mang lại hiệu quả cao, cần được áp dụng rộng rãi trong quản lý tài nguyên và môi trường đất nước [3]. Tuy nhiên, trong thời gian qua chính quyền và các cơ quan quản lý Nhà nước chưa thực sự quan tâm đến các công cụ kinh tế môi trường. Do đó, các công cụ kinh tế môi trường được triển khai áp dụng chưa đầy đủ và chưa đồng bộ trong công tác quản lý môi trường. Thí dụ, mức thuế môi trường phản ánh không đúng bản chất vấn đề ô nhiễm môi trường do đối tượng gây ra, do đó không có tác dụng ngăn ngừa ô nhiễm. Ví dụ điển hình về bất cập của thuế môi trường tồn tại ngay trong Luật Thuế bảo vệ môi trường: 1 tấn than khi đốt gây ra ô nhiễm (bụi, SO2, NOx, VOC) cao hơn nhiều so với 1 tấn xăng nhưng chỉ phải chịu thuế môi trường 30.000 đ, trong khi đó 1 tấn xăng hiện nay phải trả thuế tới 4.000.000 đ. Lệ phí thu gom rác thải sinh hoạt quá thấp so với phí môi trường của rác, do đó chỉ bù đắp được một phần nhỏ chi phí xử lý rác thải sinh hoạt; cho nên dù ngân sách cấp bổ sung kinh phí lớn cho việc xử lý rác thải sinh hoạt, tình hình quản lý rác thải sinh hoạt của Việt Nam không có tiến bộ gì trong nhiều năm qua. Vấn đề đánh giá thực trạng số lượng công cụ kinh tế môi trường đang được áp dụng trong thực tế ở nước ta, xác định các bất cập trong việc quy định vận hành, các thiếu hụt về cơ chế và phương pháp áp dụng để nâng cao hiệu quả là việc làm rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn lớn.

Bài viết tập trung vào việc phân tích làm rõ đặc điểm các công cụ kinh tế; phân loại và đánh giá thực trạng các công cụ kinh tế đang triển khai ở Việt Nam; nhằm tìm ra phương hướng áp dụng các công cụ đó vào điều kiện cụ thể của đất nước.

2. Đặc điểm công cụ kinh tế môi trường

Công cụ kinh tế bảo vệ môi trường phát sinh trong cơ chế của nền kinh tế thị trường, khi các tác động và ảnh hưởng môi trường của các hoạt động kinh tế được lượng giá thành tiền và đưa vào hạch toán giá thành và chi phí. Công cụ kinh tế là những chính sách, biện pháp nhằm thay đổi chi phí lợi và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra các thiệt hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Công cụ kinh tế bảo vệ môi trường có tác động trực tiếp tới thu nhập người sản xuất hoặc hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng tới môi trường, nhằm ngăn ngừa các tác động tiêu cực tới môi trường. Công cụ kinh tế bảo vệ môi trường có thể tác động trực tiếp tới các nhà sản xuất dưới dạng thuế môi trường, lệ phí xả thải hoặc gián tiếp thông qua người tiêu thụ dưới dạng phí sử dụng. Trong tất cả các trường hợp đó, công cụ kinh tế đều có mục đích chung là hạn chế lượng chất thải phát sinh, giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên và năng lượng.

Nói chung, một công cụ kinh tế bảo vệ môi trường có thể được định nghĩa là: "Bất kỳ công cụ nào nhằm mục đích tạo ra sự thay đổi trong hành vi của các tác nhân kinh tế bằng cách nội tại hóa chi phí môi trường hoặc suy kiệt thông qua thay đổi cơ cấu khuyến khích những tác nhân này phải đối mặt (thay vì bắt buộc một tiêu chuẩn hoặc một công nghệ) đủ điều kiện như một công cụ kinh tế (Panayotou, 1998) [7]. Anderson et.al. (2001) [8] cũng đề xuất định nghĩa sau: “Một công cụ kinh tế cho quản lý môi trường là một chính sách hoặc sự kết hợp của các chính sách cung cấp tài chính và các khuyến khích khác để người sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải trả cho các chi phí xã hội của việc sử dụng đó ”. Các công cụ kinh tế được thiết kế để thúc đẩy cải thiện công tác quản lý môi trường từ hẹp đến rộng (Anderson et al. 2001):

Các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường được xác định là hẹp bao gồm các công cụ liên kết lợi ích trực tiếp và tỷ lệ thuận với các mục tiêu thực hiện hoặc các chỉ tiêu để đạt được điều kiện mong muốn của môi trường tự nhiên hoặc tự nhiên tài nguyên. Ví dụ, các công cụ dựa trên giá, như: phân biệt thuế thông qua các khoản giảm giá cho chủ đất để đạt được các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học nhất định, có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi của các chủ sở hữu đất do thay đổi khả năng chi trả hoặc khả năng sinh lợi của đất tập trung trong bảo tồn.

Các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường rộng rãi bao gồm: các công cụ không chắc chắn về mặt kinh tế hoặc gián tiếp liên kết cho cơ quan hoặc tổ chức có hành vi quản lý tài nguyên hoặc môi trường sẽ được thay đổi. Ví dụ, một công cụ dựa trên thông tin (chẳng hạn như báo cáo phát triển bền vững) tự nó sẽ không tăng chi phí gây ô nhiễm cho người gây ô nhiễm, nhưng vẫn có thể khuyến khích giảm mức độ xả thải của mức độ ô nhiễm do sự thay đổi thị phần của sản phẩm có thể xảy ra do kết quả của dư luận.

Các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường có thể được áp dụng trong phạm vi hẹp để nhắm mục tiêu bảo tồn các loài chính (ví dụ như tê giác) hoặc bảo vệ của một địa điểm mục tiêu (ví dụ: một vùng đất ngập nước). Các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường khác hoạt động rộng hơn và nhằm mục đích cải thiện việc quản lý môi trường và hoạt động của hệ sinh thái (ví dụ: ở các lưu vực nơi khan hiếm nước là một vấn đề đáng lo ngại, các công cụ có thể được sử dụng để tạo ra các động lực nhằm cải thiện việc quản lý các khu rừng và đất ngập nước ở các lưu vực phía trên, để bảo vệ và tối đa hóa khả năng giữ nước và các dịch vụ điều tiết dòng chảy của hệ sinh thái).

Hiệu quả của một công cụ kinh tế bảo vệ môi trường trong việc đóng vai trò là động cơ thúc đẩy cải thiện quản lý môi trường không được xác định bởi giá trị của lợi ích (khuyến khích) đơn thuần. Một loạt các yếu tố sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của một công cụ kinh tế bảo vệ môi trường trong một bối cảnh cụ thể bao gồm:

Mức độ mà công cụ kinh tế bảo vệ môi trường phù hợp hoặc phù hợp với bối cảnh xã hội, chính trị và kinh tế;

Mức độ khuyến khích liên quan đến bản chất của thách thức môi trường và nguyên nhân của công cụ;

Mức độ mà công cụ kinh tế bảo vệ môi trường được các đại lý hoặc tổ chức mục tiêu coi là động cơ khuyến khích hoặc cách tiếp cận quản lý đang được thay đổi;

Ngoài ra, ở các nước đang phát triển, nơi đặc biệt là nguồn tài chính khan hiếm và hạn chế năng lực thể chế, các tiêu chí quan trọng để lựa chọn các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường tốt nhất bao gồm: hiệu quả về chi phí và tính khả thi về mặt quản trị; nhất quán với các mục tiêu phát triển khác; công bằng, linh hoạt và minh bạch. Các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường có thể là: công cụ dựa trên giá, công cụ dựa trên quyền, các công cụ pháp lý, tự nguyện và dựa trên thông tin.

Công cụ kinh tế bảo vệ môi trường rất đa dạng, gồm thuế bảo vệ môi trường, phí bảo vệ môi trường và lệ phí bảo vệ môi trường, quỹ bảo vệ môi trường, côta (quota) môi trường, ký quỹ môi trường, trợ cấp tài chính, nhãn sinh thái v.v… Mỗi công cụ có những ưu điểm riêng trong từng nội dung quản lý cụ thể. Nhiệm vụ của người làm công tác quản lý môi trường là lựa chọn được các công cụ thích hợp để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của mình. Để phát huy hiệu lực, công cụ kinh tế cần có các điều kiện:

Nền kinh tế thị trường thực sự, khi hàng hóa được tự do trao đổi theo đúng chất lượng và giá trị. Công cụ kinh tế môi trường ra đời trong nền kinh tế thị trường, khi hàng hóa và dịch vụ sau khi tính thêm các chi phí môi trường được trao đổi công bằng trên thị trường theo quan hệ cung cầu. Trong nền kinh tế dân chủ tập trung, giá cả của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ do chịu ảnh hưởng của các quan hệ bao cấp nên không tính đến chi phí môi trường và trao đổi không đúng theo quan hệ thị trường đã không khuyến khích doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường.

Chính sách và các quy định pháp luật chặt chẽ cho phép kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra ô nhiễm hoặc sử dụng các thành phần môi trường. Khi chính sách và các quy định pháp luật chưa chặt chẽ, các doanh nghiệp sẽ tìm cách trốn tránh trách nhiệm kinh tế với Nhà nước, trong đó có trách nhiệm đóng góp chi phí môi trường do hoạt động của mình gây ra.

Hiệu lực cao của các tổ chức quản lý môi trường từ Trung ương đến địa phương trong quá trình thi hành các quy định của Nhà nước về pháp luật. Vì khi năng lực của cơ quan quản lý môi trường các cấp chưa cao, việc tính toán chi phí môi trường và huy động sự đóng góp kinh phí từ các doanh nghiệp không đảm bảo sự công bằng, thậm chí có thể xuất hiện các biểu hiện tiêu cực.

Khi thu nhập quốc nội (GDP) bình quân đầu người cao cho phép quốc gia sẽ có nhiều nguồn tài chính dành cho công tác bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức môi trường cho mọi người dân. Đóng góp chi phí cho hoạt động bảo vệ môi trường là nhiệm cụ chung của toàn xã hội và mọi người dân trong mỗi quốc gia; khi thu nhập quốc dân bình quân còn thấp, phần chi phí đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trường của xã hội sẽ thấp, do vậy việc sử dụng các công cụ kinh tế môi trường sẽ ít mang lại hiệu quả như mong muốn.

Công cụ kinh tế môi trường có tác động mạnh mẽ tới sự điều chỉnh chính sách kinh tế và môi trường ở các nước phát triển, do vậy cần phải nghiên cứu áp dụng chúng trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội ở quy mô lâu dài. So với công cụ luật pháp và chính sách, trong quản lý công cụ kinh tế môi trường thường linh hoạt và mềm dẻo hơn, cho nhiều phương án thực thi hơn so với quy định của pháp luật (cho phép hoặc không cho phép). Công cụ kinh tế bảo vệ môi trường cần phải liên tục phát triển và hoàn thiện theo nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và sự hòa nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học và công nghệ, các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường cần luôn được nghiên cứu, hoàn thiện, tránh các phản ứng tiêu cực từ phía các doanh nghiệp và người tiêu thụ. Sự mở cửa của nền kinh tế trong quá trình toàn cầu hóa đòi hỏi rất cao đối với các sản phẩm thương mại quốc tế, gồm cả đòi hỏi về sự an toàn môi trường trong quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm. Ngay ở các nước phát triển như Bắc Âu, cho đến nay công cụ kinh tế bảo vệ môi trường vẫn tiếp tục hoàn thiện trong thực tế [9].

Việc sử dụng các công cụ kinh tế ở Phần Lan: Trong giai đoạn 2014–2017, các thay đổi chủ yếu được thực hiện đối với các công cụ hiện có. Trong lĩnh vực năng lượng, thuế suất liên quan đến năng lượng đã được tăng lên một số lần. Từ năm 2016, trợ cấp cho điện gió giảm xuống mức tương tự áp dụng cho khí sinh học và nhà máy nhiên liệu gỗ... Các công cụ kinh tế liên quan đến phương tiện giao thông cũng có sự thay đổi kể từ năm 2013. Nhìn chung, thuế môi trường cho ô tô hàng năm đều tăng đáng kể cho tất cả các xe ô tô, bất kể lượng khí thải. Thuế xe hơi hàng năm bao gồm một khoản tỷ lệ với mức phát thải CO₂ của phương tiện và thuế trợ lực lái xe; theo đó xăng ô tô chở người chỉ phải chịu thuế theo mức phát thải. Tuy nhiên, vào năm 2015, người ta đã quyết định rằng thuế trước bạ trả cho các phương tiện mới sẽ được giảm đối với những chiếc ô tô thải ra ít hơn chất ô nhiễm. Các công cụ chính sách chính để quản lý và ngăn ngừa chất thải, thuế chất thải, cũng đã được tăng một số lần kể từ năm 2013.

Việc sử dụng các công cụ kinh tế ở Iceland: Ngoài việc điều chỉnh tỷ giá nhỏ, các công cụ kinh tế ở Iceland có hầu hết các một phần không thay đổi trong giai đoạn 2014–2017. Tuy nhiên, việc tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường đang phát triển; ví dụ, chính phủ đã áp đặt thuế bãi rác mới và tăng thuế carbon để hỗ trợ chính sách khí hậu của nước này. Hơn nữa, Nghị viện đã thông qua nghị quyết vào năm 2017 nhằm tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế bảo vệ môi trường trong giai đoạn 2017–2021 để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo trong vận tải đường bộ và vận chuyển.

Việc sử dụng các công cụ kinh tế ở Na Uy: Hồ sơ môi trường của nhiều loại thuế đã được tăng cường kể từ năm 2014. Thuế CO₂ đã được tăng dần và mở rộng, thông qua việc giảm số lượng các lĩnh vực được miễn thuế. Thuế đối với lượng khí thải CO₂ từ nhiên liệu máy bay trên các chuyến bay nội địa đã được tăng lên vào năm 2015 và vào năm 2017, và thuế CO₂ đối với khí thải tự nhiên từ dầu mỏ trong không khí thềm lục địa được tăng lên. Thuế sử dụng đường bộ đối với cồn sinh học, LPG và diesel sinh học đã được tăng dần lên, ngang bằng với xăng và dầu diesel tự động (2016). Những thay đổi đáng chú ý nữa là thuế xử lý chất thải đã được bãi bỏ vào năm 2015, vì nó được coi là có tác động hạn chế đến môi trường.

Việc sử dụng các công cụ kinh tế ở Thụy Điển: Trong giai đoạn 2014–2017, một số thay đổi đã được thực hiện trong các công cụ hiện có và một số công cụ mới đã được triển khai, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng và vận chuyển. Từ năm 2017 và trở đi, thuế năng lượng đối với xăng và dầu diesel sẽ được tăng 2% hàng năm. Tương tự như vậy, thuế năng lượng đối với tiêu thụ điện của các hộ gia đình và doanh nghiệp có mức tăng nhỏ trong năm 2017. Trong lĩnh vực giao thông vận tải, một chương trình trợ cấp và thuế (còn gọi là tiền thưởng) trên phương tiện đã được quyết định vào năm 2017 và thực hiện vào năm 2018 nhằm mục đích tăng tỷ lệ ô tô có lượng khí thải carbon thấp. Hơn nữa, trợ cấp mua xe đạp điện và thuế hàng không mới được thực hiện vào năm 2017. Trong Năm 2017, thông qua việc thực hiện cái gọi là thuế Hóa chất, là loại thuế đánh vào chất chống cháy trong các sản phẩm điện tử. Từ năm 2017, đạo luật Khí hậu được thông, theo đó Thụy Điển cam kết thực hiện một số hành động với mục đích giảm khí thải nhà kính.

3. Phân loại công cụ kinh tế môi trường

Có nhiều cách phân loại công cụ kinh tế bảo vệ môi trường [3, 4, 5, 6, 7, 8], tuy nhiên phần đông cách phân loại đều xuất phát từ sự phân loại của tổ chức UNEP [5, 6] là chia thành 7 nhóm lớn: a) quyền tài sản, b) tạo ra thị trường, c) các công cụ tài khóa, d) hệ thống tính phí, e) các công cụ tài chính, f) các công cụ trách nhiệm, g) trái phiếu thực hiện và hệ thống hoàn trả tiền gửi.

3.1. Công cụ “Quyền sở hữu” trong bảo vệ môi trường

Loại công cụ này dựa trên sự thừa nhận rằng sự cạn kiệt tài nguyên quá mức và suy thoái môi trường phát sinh từ các tín hiệu giá sai lệch do sự thiếu vắng (hoặc mỏng) của thị trường tài nguyên và môi trường. Trong phạm vi thị trường, việc thiết lập quyền tài sản sẽ dẫn đến sự xuất hiện của thị trường và sự khan hiếm đối với tài nguyên. Với các quyền sở hữu độc quyền và an toàn, việc cạn kiệt tài nguyên là nội bộ của chủ sở hữu / người dùng, trong khi việc cạn kiệt tài nguyên là bên ngoài đối với người dùng. Hệ quả của việc nội bộ hóa này là chủ sở hữu sẽ không tham gia vào việc khai thác tài nguyên trừ khi giá của hàng hóa tài nguyên không chỉ bao gồm chi phí khai thác mà còn cả chi phí sử dụng hoặc cạn kiệt, là lợi ích có thể bỏ qua trong tương lai do sử dụng hiện tại. Với quyền sở hữu được đảm bảo, giá của các hàng hóa tài nguyên như khoáng sản, dầu mỏ và gỗ sẽ phản ánh chi phí cạn kiệt tài nguyên và cung cấp các tín hiệu phù hợp để sử dụng và bảo tồn hiệu quả phù hợp với sự thay đổi khan hiếm tài nguyên tương đối.

Kết quả này dựa trên ba giả định: (a) rằng các thị trường tài nguyên xuất hiện sau khi chuyển nhượng các quyền tài sản đảm bảo sẽ có tính cạnh tranh; (b) không có sự khác biệt giữa tỷ lệ chiết khấu tư nhân và xã hội; và (c) không có tác động bên ngoài đáng kể (chẳng hạn như tác động môi trường) từ việc khai thác tài nguyên chưa được nội tại hóa thông qua các quyền tài sản đã được thiết lập. Nếu các điều kiện này không được đáp ứng, chỉ riêng quyền sở hữu được đảm bảo sẽ không đủ để tạo ra các động lực phù hợp cho việc phân bổ nguồn lực tối ưu về mặt xã hội: thị trường không cạnh tranh sẽ dẫn đến thời gian sử dụng tài nguyên bị bóp méo; tỷ lệ chiết khấu tư nhân cao hơn sẽ dẫn đến cạn kiệt tài nguyên nhanh hơn mức tối ưu về mặt xã hội.

Việc chuyển nhượng quyền tài sản như một công cụ để nội bộ hóa chi phí bên ngoài có một số ưu điểm: (a) nó đi vào gốc rễ của vấn đề, sự vắng mặt hoặc trục trặc của thị trường do quyền tài sản không xác định; (b) nó dựa vào chính phủ để làm những gì nó làm tốt nhất, (tức là, tạo ra cơ sở hạ tầng thể chế và khuôn khổ pháp lý cho hoạt động hiệu quả của thị trường - chính phủ phân bổ quyền tài sản và thị trường phân bổ nguồn lực); (c) vì chính phủ chỉ làm điều này một lần, để lại những thay đổi trong tương lai về quyền tài sản cho thị trường, nên nó có chi phí hành chính tương đối thấp và nó giảm thiểu những can thiệp sai lệch vào hệ thống giá cả; (d) các quyền tài sản có thể dễ dàng bị suy giảm (bị hạn chế theo những cách nhất định) để nội tại hóa các chi phí bên ngoài khác hoặc để theo đuổi các mục tiêu xã hội khác, thông qua các biện pháp bảo đảm, giảm nhẹ, và các hạn chế sử dụng và xử lý khác; (e) không giống như thuế và phí, quyền tài sản tự động điều chỉnh theo các hoàn cảnh thay đổi (tức là sau khi được thiết lập, chúng đáp ứng tiêu chí tự động kể từ đó trở đi); (f) bất kể quyền tài sản được phân phối như thế nào, tính hiệu quả được đảm bảo miễn là quyền tài sản có một số đặc tính nhất định như tính rõ ràng, tính độc quyền, khả năng chuyển nhượng và khả năng thực thi, và không có bất kỳ sự thất bại thị trường nào khác.

Một số quyền sở hữu cơ bản thường có trong công cụ kinh tế bảo vệ môi trường là: quyền sở hữu (quyền sở hữu đất, quyền sở hữu nước, quyền khai thác, v.v.) và quyền sử dụng (quyền quản lý, quyền cấp phép, v.v.).

3.2. Công cụ “Tạo thị trường” trong bảo vệ môi trường

Như chúng ta đã thấy, quyền tài sản ở dạng thông thường không phải là công cụ thích hợp để bảo vệ môi trường, không giống như việc sử dụng chúng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. Trong trường hợp hầu hết các tài nguyên thiên nhiên, rất nhiều lợi ích và chi phí của việc sử dụng và bảo tồn tài nguyên xảy ra tại chỗ và do đó có thể được thực hiện trong nội bộ người sử dụng thông qua quyền sở hữu an toàn đối với địa điểm. Quyền sở hữu nội bộ hóa một cách hiệu quả chi phí suy giảm (giá trị khan hiếm) và chi phí môi trường tại chỗ. Mọi chi phí bên ngoài (tác động bên ngoài) hoặc các khía cạnh lợi ích công cộng đều được nội bộ hóa thông qua các công cụ bổ sung như quy định và khuyến khích. Trong trường hợp ô nhiễm môi trường, quyền sở hữu cá nhân đối với các phương tiện môi trường không khí, nước và bầu khí quyển là không khả thi (không thể loại trừ về mặt kỹ thuật) cũng như không mong muốn (chi phí cơ hội bằng không để cho phép nhiều người hơn được hưởng không khí sạch). Một giải pháp thay thế (thường là hiệu quả hơn về chi phí, như chúng ta sẽ thấy bên dưới) là thử và bắt chước thị trường, trên thực tế, để tạo ra một thị trường về chất lượng môi trường. Cách tiếp cận này coi môi trường như một nguồn tài nguyên khan hiếm, chưa được bán và không được định giá, được sử dụng quá mức vì nó miễn phí. Do đó, một giải pháp có thể là tạo ra một thị trường trong đó quyền sử dụng môi trường như một bể chứa chất thải (một loại quyền sử dụng) được chỉ định, định giá và mua bán. Việc chuyển nhượng (tức là định nghĩa và phân bổ quyền sử dụng môi trường) sẽ đảm bảo tổng mức sử dụng tổng hợp đến mức chất lượng môi trường mong muốn và nêu rõ nội dung của các quyền cá nhân (chia sẻ). Định giá, hậu quả của sự khan hiếm (do việc cấp ít quyền sử dụng môi trường hơn so với nhu cầu), sẽ đảm bảo sử dụng hợp lý hơn môi trường, bởi vì càng sử dụng nhiều thì càng tốn kém. Việc mua bán quyền (hoặc giấy phép) ô nhiễm sẽ đảm bảo rằng khả năng đồng hóa của môi trường, một nguồn tài nguyên khan hiếm, được sử dụng tốt nhất có thể. Theo thời gian, tăng trưởng kinh tế và nhu cầu mở rộng hoạt động kinh tế sẽ thúc đẩy các ngành công nghiệp sử dụng môi trường ngày càng hiệu quả hơn, giảm hơn nữa chất thải trên một đơn vị sản lượng, và phát triển các công nghệ và sản phẩm gây ô nhiễm mới cũng như hiệu quả hơn các phương pháp giảm thiểu ô nhiễm, để nhường chỗ cho việc mở rộng với số lượng giấy phép ô nhiễm hạn chế.

Giấy phép phát thải có thể giao dịch là một hình thức tạo ra thị trường. Mức phát thải cho phép tổng hợp được thiết lập cho mỗi lưu vực hoặc lưu vực và được phân bổ giữa các đối tượng gây ô nhiễm theo mức sản lượng hoặc mức phát thải hiện tại. Vì hạn ngạch phát thải tổng hợp được đặt bằng hoặc thấp hơn mức phát thải hiện tại, một mức độ khan hiếm giả tạo được tạo ra và giấy phép có giá trị dương (giá thị trường). Các nhà sản xuất công nghiệp thiếu giấy phép hoặc có kế hoạch mở rộng phải đảm bảo giấy phép phát thải bằng cách giảm lượng khí thải từ các nhà máy hiện có. Ngoài ra, họ có thể mua giấy phép từ những người gây ô nhiễm khác, những người có khả năng giảm lượng khí thải với chi phí thấp hơn các nhà sản xuất công nghiệp có thể hoặc những người thấy việc bán giấy phép của họ có lợi hơn là sử dụng chúng. Qua đó, đạt được mức giảm phát thải mong muốn với chi phí tối thiểu có thể cho xã hội và tạo động lực mạnh mẽ để tiếp tục nỗ lực nâng cao hiệu quả và phát triển các công nghệ sạch hơn.

Do đó, giấy phép cho phép người gây ô nhiễm hưởng giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận phát sinh từ việc thải tự do lượng khí thải cho phép vào môi trường. Nếu thay vào đó, các giấy phép được bán hoặc đấu giá, nhà nước là người nhận doanh thu, sau đó có thể chuyển cho công dân dưới hình thức tăng cung cấp hàng hóa công cộng hoặc giảm thuế. Ngoài ra, giấy phép phát thải có thể được cấp cho công chúng (ví dụ, mỗi người một giấy phép) với tổng số giấy phép được cố định ở mức phát thải được xã hội chấp nhận. Những người gây ô nhiễm sau đó sẽ phải mua giấy phép của họ từ công chúng, theo phân bổ này, quyền được hưởng giá trị hiện tại của lợi ích từ việc sử dụng khả năng đồng hóa của môi trường. Nói cách khác, công chúng có quyền có một môi trường không bị ô nhiễm và những người gây ô nhiễm phải được bồi thường cho bất kỳ sự giảm sút chất lượng môi trường nào.

Một số công cụ “quyền tạo ra thị trường” có thể là: giấy phép thải chất thải có thể giao dịch dịch được (chứng chỉ phát thải, chứng chỉ carbon); các hạn ngạch đánh bắt có thể giao dịch được (quota đánh bắt), cổ phần nước có thể giao dịch, khối lượng tài nguyên có thể giao dịch và chia sẻ; v.v.

3.3. Công cụ tài khóa bảo vệ môi trường

Các công cụ tài khóa như thuế và trợ cấp có thể được sử dụng để thu hẹp khoảng cách giữa chi phí/lợi ích tư nhân và xã hội. Ví dụ, giá của các sản phẩm gây ô nhiễm như xăng hoặc thuốc trừ sâu không bao gồm các chi phí xã hội gây thiệt hại cho sức khỏe của người dân và các hoạt động khác phát sinh từ việc sử dụng chúng vì những chi phí này là bên ngoài đối với người ra quyết định (người sản xuất hoặc người tiêu dùng). Do đó, đầu vào và sản phẩm cuối cùng gây ô nhiễm thường được định giá thấp hơn, cả tuyệt đối (về mặt chi phí xã hội) và so với các sản phẩm không gây ô nhiễm hoặc ít ô nhiễm hơn. Điều này dẫn đến sản xuất thừa và tiêu thụ quá mức, do đó dẫn đến hủy hoại môi trường ở mức cao hơn mức tối ưu về mặt xã hội. Để làm được điều này, thuế phải được ấn định chính xác bằng mức thiệt hại môi trường biên tương ứng với mức ô nhiễm tối ưu về mặt xã hội. Thuế môi trường có thể được đánh vào (a) bản thân chất gây ô nhiễm (tức là đối với nước thải, khí thải hoặc chất thải rắn), hoặc (b) đối với các sản phẩm cuối cùng có liên quan đến ngoại ứng môi trường.

Thuế đánh vào đầu vào và sản phẩm cuối cùng mà việc sản xuất hoặc tiêu dùng có liên quan đến tác động ô nhiễm, mặc dù gián tiếp và do đó kém hiệu quả hơn, có lợi thế là dựa vào thủ tục hành chính của hệ thống thuế hiện hành. Không cần giám sát các nguồn và mức độ phát thải hoặc nước thải và có thể dễ dàng thu thuế sản phẩm từ các nhà sản xuất tại thời điểm trao đổi (mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu). Ví dụ bao gồm thuế đối với nhiên liệu, hóa chất công nghiệp và thuốc trừ sâu. Thuế môi trường đối với các sản phẩm cuối cùng có thể được điều chỉnh để đảm bảo tính cạnh tranh quốc tế; xuất khẩu có thể được miễn, vì sản phẩm không được tiêu thụ trong nước và đầu vào có thể được thực hiện với mức thuế môi trường như nhau.

Các công cụ tài chính không chỉ bao gồm thuế mà còn bao gồm trợ cấp môi trường. Thay vì đánh thuế những người gây ô nhiễm để giảm ô nhiễm đến mức tối ưu, những người gây ô nhiễm có thể được trợ cấp để thực hiện chính xác điều đó. Trợ cấp môi trường tối ưu cũng bằng mức thiệt hại môi trường biên ở mức thuế tối ưu. Kết quả về cải thiện môi trường và hiệu quả kinh tế tĩnh (nguồn lực dành cho việc cải thiện được giảm thiểu) hoàn toàn giống nhau ngoại trừ sự khác biệt về chi phí giao dịch giữa thu thuế và chi trả trợ cấp. Các chính phủ đối mặt với thâm hụt ngân sách ngày càng tăng, thường không ủng hộ trợ cấp môi trường chính phủ khá hào phóng với các ưu đãi về thuế đầu tư. Các công cụ như vậy phổ biến nhất là tín dụng thuế đầu tư và khấu hao nhanh cho các thiết bị kiểm soát ô nhiễm và các cơ sở xử lý chất thải. Một số quốc gia sử dụng các khoản tín dụng thuế và trợ cấp như các biện pháp khuyến khích tái định cư công nghiệp nhằm khiến các ngành công nghiệp gây ô nhiễm di chuyển ra khỏi các trung tâm đô thị nơi tác động của ô nhiễm cao (do dân cư đông đúc, thông gió hạn chế, khả năng đồng hóa quá tải, v.v.) để giảm bớt khu đông dân cư hoặc khu công nghiệp.

Thuế môi trường, nếu được cấu trúc hợp lý, có thể trở thành lực đẩy chính của cải cách chính sách tài chính quốc gia và là công cụ quan trọng trong bảo vệ môi trường. Có rất nhiều loại thuế bảo vệ trường đang tồn tại ở các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Một số loại thuế môi trường thông dụng gồm: thuế ô nhiễm, trợ cấp môi trường, thuế phát thải, thuế đầu vào, thuế sản phẩm, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế phân biệt; v.v.

3.4. Hệ thống phí môi trường

Phí môi trường được định nghĩa là các khoản thanh toán cho việc sử dụng tài nguyên, cơ sở hạ tầng và dịch vụ và tương tự như thị trường đối với hàng hóa tư nhân. Phí là “giá” đối với hàng hóa công cộng hoặc hàng hóa tư nhân được cung cấp công khai. Hay nói một cách khác, phí môi trường là khoản chi phí mà người sử dụng phải bỏ ra chi trả cho khoản tài nguyên môi trường đã sử dụng hay chi phí phục hồi tài nguyên và môi trường để đưa chúng về trạng thái ban đầu.

Phí môi trường khác với giá thị trường của hàng hóa tư nhân vì chúng không được thị trường xác định, mà do cơ quan chính phủ, cơ quan công ích quy định. Điều này đối lập với chúng với các loại thuế không phải là khoản thanh toán cho “dịch vụ” mà là một phương tiện để tăng doanh thu tài khóa. Hơn nữa, thuế được kết nối với ngân sách, tạo thành một phần nguồn thu chung của Chính phủ, trong khi các khoản phí nằm ngoài ngân sách, nhằm mục đích thu hồi chi phí cho một khoản đầu tư công cụ thể hoặc để tài trợ cho chi phí cung ứng biên dài hạn. Mối liên hệ này với ngân sách chung và xu hướng cung cấp các tiện ích (ví dụ: nước, điện), dịch vụ công cộng và sử dụng cơ sở hạ tầng với chi phí bằng không hoặc chi phí danh nghĩa, các khoản phí được coi là thuế hơn là giá. Tuy nhiên, vì vẫn có sự tương ứng giữa việc sử dụng và thanh toán, phí người dùng vẫn được coi là một phương tiện bù đắp một phần chi phí hơn là một nguồn doanh thu chung. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh trong trường hợp phí ô nhiễm, mà (a) không được coi là phương tiện thu hồi chi phí hoặc thanh toán cho việc sử dụng dịch vụ hoặc tài nguyên và (b) có thể có khả năng tăng một lượng lớn doanh thu. Các Bộ Môi trường thích coi phí ô nhiễm là phí sử dụng và muốn các khoản thu dành cho đầu tư môi trường để giảm thiểu ô nhiễm và phục hồi các môi trường bị suy thoái. Các Bộ Tài chính thích coi phí ô nhiễm là thuế và do đó là một nguồn chung doanh thu được phân bổ giữa các mục đích sử dụng thay thế nhằm tối đa hóa tỷ suất sinh lợi xã hội mà không cần quan tâm đến nguồn gốc của các khoản thu.

Mục tiêu chính của phí phải là sự thay đổi trong cơ cấu khuyến khích mà người sử dụng các nguồn lực khan hiếm phải đối mặt để tạo ra sự sắp xếp lại hành vi của họ với lợi ích xã hội. Theo tinh thần này, phí sử dụng là công cụ để giảm việc sử dụng lãng phí, quản lý nhu cầu và duy trì sự bảo tồn và là công cụ để thu hồi chi phí hoặc tài trợ cho việc mở rộng nguồn cung. Tương tự như vậy, phí ô nhiễm là công cụ để nội hóa các chi phí bên ngoài và khuyến khích kiểm soát ô nhiễm và cũng là một phương tiện để nâng cao doanh thu để tài trợ cho các khoản đầu tư vào môi trường.

Hệ thống tính phí môi trường có thế chia thành ba nhóm:

- Nhóm đầu tiên có thể được gọi là phí ô nhiễm ô nhiễm, bao gồm phí phát thải, phí xả thải, phí chất thải rắn, phí ô nhiễm tiếng ồn và phí sản phẩm. Khi được đặt ở mức tối ưu (bằng với chi phí thiệt hại biên), phí ô nhiễm giống như thuế ô nhiễm.

- Nhóm phí thứ hai có thể được gọi là phí người dùng trực tiếp hoặc "hoạt động", bao gồm tiện ích phí (ví dụ: nước, điện, v.v.), phí cầu đường và phí vào cửa công viên, bãi biển, v.v. Ví dụ, phí cầu đường có thể được coi là giá tắc nghẽn không phải là giá để có đường đi. Nếu không có tắc nghẽn, việc hạn chế tiếp cận đường thông qua giá đường sẽ làm giảm phúc lợi xã hội

Nhóm phí thứ ba có thể được gọi là phí người dùng gián tiếp hoặc "thụ động" và chúng bao gồm phí cải tiến và phí tác động. Phí cải thiện thường được áp dụng đối với tài sản tư nhân được hưởng lợi từ các khoản đầu tư công. Ví dụ, giá trị tài sản tư nhân có thể tăng lên nhiều do kết quả của những con đường mới, công viên, làm sạch môi trường, v.v.

Hiện nay, Việt Nam đã ban hành nhiều loại phí môi trường, như: phí nước thải công nghiệp, phí nước thải sinh hoạt, phí thoát nước, v.v. Tuy nhiên, đối với loại chất thải phổ biến là rác thải sinh hoạt do không chính thức ban hành phí môi trường nên tình trạng xử lý rác thải sinh hoạt đang gặp nhiều khó khăn.

3.5. Công cụ tài chính bảo vệ môi trường

Các công cụ tài chính bảo vệ môi trường có nhiều điểm tương đồng với các hệ thống trợ cấp và ưu đãi thuế và cũng có nhiều hạn chế. Các công cụ tài chính như quỹ quay vòng, quỹ xanh, khuyến khích tái định cư và hỗ trợ lãi suất hoặc các khoản vay ưu đãi (đối với các dự án có ngoại tác tích cực đáng kể, ví dụ, trồng rừng) có thể được coi là (a) phản ứng tốt thứ hai đối với thị trường vốn méo mó hoặc không hiệu quả, (b ) các phương tiện để phát huy tác dụng bên ngoài tích cực hoặc sự sẵn sàng chi trả của các nhà đầu tư có quan tâm đến môi trường cho các khoản đầu tư có trách nhiệm với xã hội, và (c) các công cụ để huy động thêm các nguồn tài chính cho bảo tồn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Mặc dù không thể phủ nhận giá trị cụ thể của các các công cụ tài chính trong sửa chữa những khiếm khuyết của thị trường vốn, phân bổ ngân sách hiệu quả và định giá đầy đủ. Các khoản trợ cấp tài chính, các khoản vay ưu đãi, lãi suất được trợ cấp, và các quỹ ngoại hối hoặc quỹ đặc biệt quá cùn như những công cụ để nội bộ hóa các chi phí xã hội bên ngoài một cách hiệu quả.

Ở Việt Nam, các công cụ tài chính đang phát huy hiệu quả huy động vốn cho công tác bảo vệ môi trường và quỹ bảo vệ môi trường như: quỹ bảo vệ môi trường quốc gia, quỹ bảo vệ môi trường địa phương và quỹ môi trường của các ngành kinh tế, thậm chí là quỹ bảo vệ môi trường của các khu công nghiệp hay một cộng đồng doanh nghiệp địa phương. Nhược điểm và khó khăn lớn nhất cho các loại quỹ này khả năng bảo toàn vốn vì cơ cấu hoạt động của chính quỹ “hoạt động như một ngân hàng thương mại” nhưng không nhắm mục đích lợi nhuận.

3.6. Hệ thống trách nhiệm pháp lý về môi trường

Loại công cụ này nhằm mục đích tạo ra hành vi có trách nhiệm xã hội bằng cách thiết lập trách nhiệm pháp lý đối với (a) thiệt hại tài nguyên thiên nhiên, (b) thiệt hại môi trường, (c) thiệt hại tài sản, (d) thiệt hại cho sức khỏe con người hoặc thiệt hại tính mạng, (e) không - tuân thủ luật và quy định về môi trường, và (f) không thanh toán các khoản thuế, phí hoặc lệ phí đến hạn.

Theo một nghĩa nào đó, tất cả các công cụ đều có vai trò là động cơ thực thi hành động pháp lý và việc sử dụng quyền lực cưỡng chế của nhà nước (ví dụ, nếu không nộp thuế xả thải hoặc không mua đủ số lượng giấy phép phát thải để bù đắp lượng khí thải); các biện pháp hành chính và cuối cùng là pháp lý được cung cấp để đảm bảo tuân thủ. Không giống như thuế và phí, được đặt ở mức chi phí thiệt hại cận biên để làm thay đổi xác suất tương đối của các sản phẩm và hoạt động có hại cho môi trường và không giống như trái phiếu môi trường và hệ thống hoàn trả tiền đặt cọc có nội dung trước, hệ thống trách nhiệm pháp lý rủi ro môi trường đánh giá và thu hồi nhiều hơn thiệt hại do rủi ro gây ra. Tuy nhiên, các hệ thống này có tác dụng khuyến khích phòng ngừa các khoản thanh toán thiệt hại dự kiến (tương đương chắc chắn) vượt quá lợi ích từ việc không tuân thủ. Tần suất mà các vụ việc trách nhiệm pháp lý được đưa ra tòa án và mức độ thiệt hại được trao ảnh hưởng đến hành vi trước đó của các bên có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý.

Bảo hiểm trách nhiệm đã nổi lên như một công cụ để tập hợp và chia sẻ rủi ro trách nhiệm giữa các bên chịu trách nhiệm. Hiệu quả khuyến khích của hệ thống trách nhiệm pháp lý không bị suy giảm đáng kể miễn là phí bảo hiểm trách nhiệm thay đổi theo hành vi hoặc hiệu suất của cá nhân. Ví dụ, bảo hiểm tai nạn xe cộ có thể thay đổi theo thói quen lái xe của cá nhân và / hoặc hồ sơ tai nạn trong quá khứ. Trong trường hợp thiệt hại có thể xảy ra là rất lớn so với khả năng của cá nhân đại lý để trả một mức thiệt hại tối thiểu nhất định, bảo hiểm trách nhiệm được pháp luật bắt buộc.

Các hệ thống trách nhiệm pháp lý không được khuyến khích cho các nước đang phát triển có hệ thống luật pháp kém phát triển hoặc với các nền văn hóa rất hiếm khi sử dụng tòa án để giải quyết tranh chấp hoặc giải quyết thiệt hại. Hệ thống này rõ ràng là không phù hợp với các nước đang phát triển, nhưng ngay cả các nền kinh tế chuyển đổi với một số lượng lớn các địa điểm bị ô nhiễm kế thừa cũng sẽ làm tốt để tránh tạo gánh nặng cho các nỗ lực tư nhân hóa và các thị trường non trẻ với một số trách nhiệm pháp lý chung.

3.7. Hệ thống trái phiếu và hoàn trả tiền gửi

Trái phiếu và hệ thống hoàn trả tiền ký quỹ là các công cụ kinh tế nhằm chuyển trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm, giám sát và thực thi cho các nhà sản xuất và người tiêu dùng cá nhân, những người được trả trước cho những thiệt hại có thể xảy ra.

Thông thường, nhà nước phải gánh những chi phí khổng lồ để làm sạch dầu tràn và đất bị ô nhiễm, thu gom và xử lý chất thải nguy hại, cải tạo đất bỏ hoang sau khi khai thác, để trồng lại rừng sau khi khai thác, và các thảm họa "thiên nhiên" do con người gây ra. Trên thực tế, một phần lớn các khoản chi cho môi trường công là để phục hồi các môi trường bị suy thoái, vốn có thể đã được ngăn chặn hoặc chi trả bởi những người gây ô nhiễm hoặc những người hưởng lợi từ các hoạt động có trách nhiệm. Chính phủ có thể giảm tỷ trọng của chi phí bằng cách thiết lập hệ thống hoàn trả tiền gửi, trái phiếu môi trường, bảo lãnh ngân hàng để tuân thủ các quy tắc môi trường, các khoản phí giả định dựa trên kỹ thuật hoặc hệ số lãng phí đầu ra thống kê, v.v., với các khoản hoàn lại để cải thiện hiệu quả.Ví dụ, trái phiếu môi trường đảm bảo rằng: (1) các công ty khai thác tài nguyên và tiềm năng người gây ô nhiễm thực hiện các biện pháp thích hợp để giảm thiểu thiệt hại môi trường do hoạt động của họ gây ra; (2) chúng có tác dụng làm sạch và phục hồi các thiệt hại còn sót lại theo cách hiệu quả nhất về chi phí; và (3) có đủ ngân quỹ để dọn sạch chất thải và phục hồi môi trường bị hư hại bởi bất kỳ ai không tuân thủ. Trái phiếu môi trường không cần phải là một hạn chế đối với hoạt động kinh tế, vì chúng có thể được đầu tư vào các tài khoản chịu lãi suất hoặc được thay thế bằng bảo lãnh ngân hàng.

Tương tự, hệ thống hoàn trả tiền ký quỹ có thể chuyển trách nhiệm kiểm soát suy thoái môi trường cho người sản xuất và người tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm, do đó họ được khuyến khích trả lại các sản phẩm phụ của quá trình sản xuất và tiêu dùng để tái chế hoặc xử lý và tiêu hủy an toàn hoặc cách khác để tài trợ cho việc thu gom và trả lại của họ bởi những người khác. Một lợi thế lớn của hệ thống hoàn trả tiền ký quỹ cho các nước đang phát triển là tạo ra một hoạt động sử dụng nhiều lao động (thu gom chất thải) trong một môi trường lao động giá rẻ, dồi dào và thiếu việc làm. Hệ thống hoàn lại tiền đặt cọc được áp dụng cho nhiều loại sản phẩm và phụ phẩm từ hộp đựng nước giải khát và bao bì của ắc quy ô tô và vỏ xe, đến nhựa và các vật liệu nguy hiểm. Trong trường hợp không có các hệ thống hoàn trả tiền ký quỹ như vậy, chính phủ phải chi tiêu nguồn thu khan hiếm của chính phủ cho việc thu gom của họ hoặc để những chất thải đó không được thu gom vào các vùng nước và đất, do đó gây tổn hại đến sức khỏe cộng đồng và động vật hoang dã, đồng thời làm tổn hại đến tiềm năng du lịch và môi trường đầu tư của đất nước.

Có nhiều cách khác mà chính phủ có thể khuyến khích khu vực tư nhân chịu trách nhiệm giảm thiểu chất thải. Ví dụ: các hiệp hội công nghiệp cho các loại ngành cụ thể (ví dụ: hóa chất nông nghiệp, nhà máy đường, nhà máy sản xuất dầu cọ, nhà máy mạ điện, v.v.) hoặc cho các địa điểm cụ thể (ví dụ: xung quanh hồ, trên sông, trên một đoạn bờ biển, hoặc trong khu công nghiệp), có thể được tự lựa chọn để đạt được một mức chất lượng nước hoặc không khí xung quanh nhất định hoặc chịu sự điều chỉnh và tác động trực tiếp của cơ quan quản lý của chính phủ. Việc tự điều chỉnh được thực hiện hiệu quả hơn và tiết kiệm chi phí hơn so với quy định trực tiếp của chính phủ bởi vì các ngành công nghiệp biết cách kiểm soát chất thải của chính họ tốt nhất, bởi vì hoạt động tự điều chỉnh được tạo ra bởi mong muốn được các thành viên khác của hiệp hội và cộng đồng chấp nhận, và vì chi phí lập chính sách và giám sát được giảm đáng kể và được đảm nhận trực tiếp bởi nguồn.

Tài liệu tham khảo

[1] Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2020.

[2] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; https://nhandan.com.vn›topic› Mot.

[3] Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh; Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, ĐHQGHN, 2000.

[4] Theodore Panayotou; Economic Instruments for Environmental Management and Sustainable Development; UNEP, 1994.

[5] UNEP, Economic Instruments for Environmental Management and Sustainable Development, Environmental Economics Series Paper No. 16, 1996.

[6] UNEP, Economic Instruments for Environmental Management - A Worldwide Compendium of Case Studies; United Nations, New York – Geneva, 1998.

[7] Panayotou T; Instruments of change — Motivating and financing sustainable development. Earthscan, London, 1998.

[8] Anderson R., Morris G. and Colby M. (2001) The Nature and Role of Economic Instruments in Environmental Management. PSU DRAFT Technical Paper for USAID Project No. 263-0255.

[9] Nordic Council of Ministers; The Use of Economic Instruments in Nordic Environmental Policy 2014–2017; TemaNord 2019.

Lưu Đức Hải, Trương Mạnh Tiến

Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam

Liên kết